Ý Nghĩa Kinh Phổ Môn

Trong tởm Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn nghĩa là cánh cửa phổ biến, cánh cửa rộng mở đến mọi loại đi vào. Nhưng thâm nghĩa của Phổ Môn là tất cả mọi người trong thế gian này ai ai cũng đều bao gồm Đức Phật quan liêu Thế Âm ở trong thâm tâm của họ. Vì chưng thế nếu biết lắng nghe tiếng music huyền diệu đó thì có lẽ ai ai cũng đều tất cả cả. Quan liêu là xem xét, Thế Âm là âm thanh của cuộc đời vì vậy Quan Thế Âm là coi xét âm thanh của thế gian. Nếu hiểu theo nghĩa thông thường của cõi trần thì Đức quan Thế Âm tu hạnh từ bi vì vậy Ngài bao gồm thể lắng nghe tiếng thở than của bọn chúng sinh mà hiện thân để hóa độ. Nhưng mục đích tu học phẩm Phổ Môn là học cách giữ Diệu Âm ở lại vào cõi đất trung ương của mình. Vày cõi đất trung khu của chúng sinh chất đầy phiền não mê lầm yêu cầu nếu biết giữ Diệu Âm, biết lắng nghe tiếng nói thanh tịnh nhiệm mầu thì cõi đất trọng điểm Ta Bà đó sẽ được trang nghiêm, đẹp đẽ, thanh tịnh và tự tại hơn.

Bạn đang xem: Ý nghĩa kinh phổ môn

*


1. Duyên khởi ghê Phổ môn

Tên gọi thông thường của bài tởm này là Phẩm Phổ Môn, ghê Phổ Môn hay tởm Quán Thế Âm và gọi đủ là quan tiền Thế Âm Bồ tát Phổ Môn Phẩm. Đây là bài gớm nói về hạnh nguyện độ sinh của Bồ tát quan lại Thế Âm, và thông qua đó, giới thiệu cách “quán chiếu” cuộc đời để đạt được giác ngộ và giải thoát như phương pháp tu tập phổ biến và có hiệu quả vào cõi Ta bà.

Nguyên tác của bản ghê được viết bằng tiếng Phạn. Có tía bản dịch chữ Hán:

(1) Bản của ngài Trúc Pháp Hộ dịch sở hữu tựa đề “Quan Thế Âm Bồ tát” là phẩm thứ 23 trong Chaính Pháp Hoa Kinh,

(2) Bản của ngài Cưu-ma-la-thập dịch mang tựa đề “Quan Thế Âm Bồ tát Phổ Môn Phẩm”, là phẩm thứ 25 trong gớm Hoa Sen Chính Pháp (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh).

(3) Bản của nhì ngài Xà-na-quật-đa và Đạt-ma-cấp- đa dịch sở hữu cùng tựa đề với bản Cưu-ma-la-thập, là phẩm thứ 24 vào Thiêm Phẩm Pháp Hoa Kinh.

Trong tía bản Hán dịch, chỉ có bản thứ cha có đủ nhì phần văn xuôi và thi hóa phần văn xuôi. Kể từ lúc bản dịch thứ bố ra đời, các ấn bản mới của ngài Cưu-ma-la-thập có bổ túc phần thi kệ của bản dịch thứ ba, như nội dung mà chúng ta sử dụng hiện nay. Bản dịch tiếng Việt hiện ni là bản dịch từ bản chữ Hán của ngài Cưu-ma-la-thập và giữ nguyên phần thi hoá văn xuôi. Bởi bởi vì có những điều được trình bày vào phần thi hoá văn xuôi không có trong phần văn và ngược lại.


2. Nội dung kinh Phổ Môn

Nội dung chính của khiếp bao gồm tía phần: Thần lực trì danh quan tiền Âm; Cứu thế độ sinh qua 33 ứng thân; Phương pháp ngũ âm và ngũ quán.

Thần lực trì danh quan liêu Âm

Thần lực độ sinh nhiệm mầu của Bồ Tát quan Thế Âm được giới thiệu là sự tương giao nhân quả giữa chúng sinh và Bồ Tát. Đức quan tiền Thế Âm sở dĩ được tôn xưng với danh hiệu này là vì Ngài là vị Bồ Tát luôn luôn ban niềm vui vô úy thí mang đến tất cả chúng sinh đang chịu nhiều đau khổ trong đời, từ thiên tai, hoả hoạn, lũ lụt, cho đến nạn vua quan tiền và giặc cướp, và thậm chí ngài còn là điểm tựa tinh thần cho quy trình con người phàm phu tu học nuôi dưỡng ngọn đuốc trí tuệ, trở thành bậc Thánh như Ngài.

Xem thêm: Tổng Hợp Ngoại Hạng Anh Vòng 3, Tổng Hợp Vòng 3 Ngoại Hạng Anh

Kinh Phổ Môn có ý nghĩa ẩn dụ rất cao, lúc đọc kinh không nên chấp chữ quên ý. Không phải khi tụng khiếp thì cầu gì được nấy, Bồ tát không phải là một vị thần linh ban phúc, cứu nguy, mục tiêu của tởm không phải là cầu nguyện để van xin. Phương pháp tu tập quán chiếu cuộc đời mới chính là cốt lõi của Kinh. Nhờ quán chiếu cuộc đời theo phương thức duyên khởi và vô ngã, người tu học trì tụng, tự độ thoát chính mình khỏi các đau khổ.

*

Cứu thế độ sinh qua 33 ứng thân

Kinh Phổ Môn còn nói lên tình thương bao la của một vị Bồ tát qua phương pháp độ sinh với 33 ứng thân khác nhau, phù hợp với căn cơ và đối tượng của người tu tập. Hình ảnh 33 ứng thân gợi cho chúng ta tinh thần nhập thế đa dạng của vị Bồ tát vì sự nghiệp duy nhất là đem lại an lạc và hạnh phúc mang lại chúng sinh. Muốn độ sinh có hiệu quả, người hành đạo phải hiểu rõ tâm lý và hành vi của đối tượng.

Ở đây không có một vị Bồ Tát Quán Thế Âm thật để cứu độ chúng ta theo phương thức cầu gì được nấy. Bởi vì điều này trái với quy luật nhân quả và nghiệp báo mà đức Phật đã giảng dạy.

Phương pháp ngũ âm và ngũ quán

Kinh Phổ Môn chỉ ra năm loại âm thanh hiện hữu trong cuộc đời, đó là, tiếng nhiệm mầu (Diệu Âm), tiếng quán chiếu cuộc đời (Quán thế Âm), tiếng thanh tịnh (Phạm Âm), tiếng sóng vỗ (Hải triều Âm) và tiếng siêu việt thế gian (Siêu việt thế gian Âm).

Đối lại năm âm thanh này là năm pháp quán chiếu hay thiền định: quán chân thật (Chân quán), quán thanh tịnh (Thanh tịnh quán), quán trí tuệ rộng lớn (Quảng đại trí tuệ quán), quán cứu khổ (Bi quán) và quán ban tình thương (Từ quán). Chính nhờ nương vào năm pháp quán chiếu này, người tu học tự giải thoát chính mình ra khỏi mọi khổ ách của cuộc đời.

Khi tu tập 5 pháp quán đó mỗi chúng ta là một Bồ Tát Quán Thế Âm cứu chính chúng ta và tha nhân ra khỏi nhà lửa của khổ đau và bất hạnh.